English

 
Trang chủ | Tour Du lịch | Thông tin Việt Nam | Thông tin Du lịch | Danh bạ Du lịch | Dịch vụ bổ trợ | Vui chơi / Giải trí | Cửa hàng lưu niệm
 Thông tin Việt Nam
Khái quát chung
Lịch sử Việt Nam
  Quốc hiệu
  Thời tiền sử
  Thời kỳ dựng nước
  Giai đoạn Bắc thuộc
  Giai đoạn độc lập
  Giai đoạn Pháp thuộc
  Nước Việt Nam
Văn hóa & Nghệ thuật
Lễ hội
Sứ quán/Lănh sự quán
Văn bản pháp luật
 Thông tin Du lịch
Địa danh du lịch
Bản đồ Việt Nam
Thị thực nhập cảnh (Visa)
Khí hậu Việt Nam
Thông tin cần thiết
Thống kê du lịch
Dự án đầu tư du lịch
Các thông tin khác
 Danh bạ du lịch
Công ty du lịch
Khách sạn
Nhà hàng
 Dịch vụ bổ trợ
Vé máy bay
Vé tàu hỏa
Vé open bus
Vé tàu thủy cao tốc
 Vui chơi / Giải trí
Biểu diễn nghệ thuật
Sân Golf
Món ăn
Bảo tàng & pḥng tranh
Các điểm du lịch Đặc sắc
  Cửa hàng lưu niệm
Bản đồ
Đồ lưu niệm
Sách & Hướng dẫn
CD & DVD
Đồ Mỹ nghệ
 

Hỗ trợ trực tuyến

Send message

Tel: (04) 39.059.059
Fax: (04) 3933.4659
Hotline: 0944 916 916

 

Số lượng Khách truy cập

 
Tour du lịch Quốc tế

Tour du lịch Thái lan

Tour Du lịch Singapore

Tour Du lịch Malaysia

Tour Du lịch Campuchia

Tour Du lịch Lào

Tour Du lịch Hồng Kông

Tour Du lịch Trung Quốc

 
  Lịch Sử Việt Nam

Nhà Lư

Nhà Lư trị v́ đất nước ta được 215 năm (1010 - 1225), qua 9 đời vua, bao gồm:
 

 - Lư Thái Tổ (1010-1028)
 - Lư Thái Tông (1028-1054)
 - Lư Thánh Tông (1054-1072)
 - Lư Nhân Tông (1072-1127)
 - Lư Thần Tông (1128-1138)
- Lư Anh Tông (1138-1175)
- Lư Cao Tông (1176-1210)
- Lư Huệ Tông (1211-1224).

- Lư Chiêu Hoàng (1225)
 


 
 ♦ Lư Thái Tổ (1010-1028):

Niên hiệu: Thuận Thiên.
Người khởi dựng triều Lư là Lư Công Uẩn người làng Cổ Pháp (Từ Sơn, Bắc Ninh). Công Uẩn sinh năm Giáp Tuất (974), là con nuôi của thiền sư Lư Khánh Văn từ 3 tuổi và truyền thuyết vẫn cho rằng ông là con của Vạn Hạnh, anh ruột Khánh Văn.

 
Tượng đài Lư Thái Tổ - Hà Nội
Công Uẩn lớn tỏ rơ có chí lớn khác thường. Ông đến Hoa Lư làm quan nhà Tiền Lê đến chức Tả thân vệ điện tiền chỉ huy sứ. Khi vua Thiếu Đế bị chết, biết ông ôm thây vua khóc. Vua Ngoạ Triều khen là trung, cử ông là Tả tướng quân chế chỉ huy sứ thống lĩnh hết quân túc vệ.

Khi Lê Long Đĩnh mất, Lư Công Uẩn đă ngoài 35 tuổi. Vua kết tự Long Đĩnh c̣n nhỏ, Lư Công Uẩn chỉ huy quân túc vệ trong chốn cung cấm. Bây giờ ḷng người đă oán giận nhà Lê nên quan Chi hậu là Đào Cam Mộc cùng các quan trong triều tôn Lư Công Uẩn lên ngôi hoàng đế vua Thái Tổ nhà Lư. Vua Thái Tổ thấy Hoa Lư hẹp nên bèn dời đô về La Thành. Tháng bảy năm Thuận Thiên nguyên niên (1010) vua khởi sự rời đô. Khi ra đến La Thành, Thái Tổ lấy cớ có điềm trông thấy rồng vàng bay lên liền đổi Đại La thành Thăng Long thành (tức Hà Nội bây giờ), đổi Hoa Lư thành phủ Tràng An và Cổ Pháp thành phủ Thiên Đức. Vua Thái Tổ chỉnh đốn việc cai trị, chia nước làm 24 lộ, hội Hoan Châu và Ái Châu là trại.

Vốn thông minh bẩm sinh, lại được nhập thân văn hoá cơ vùng đất văn minh, văn hiến, lại được sự nuôi dạy của những vị cao tăng xuất chúng, Lư Công Uẩn thực sự là người con ưu tú của dân tộc. Ông đă cùng triều Lư làm rạng danh nước Đại Việt, viết nên những trang sử oanh liệt dựng nước và giữ nước.

Chùa Ứng Tâm nơi ông sinh ra bây giờ có tên là chùa Dặn.

Ngôi huyệt chỗ giếng nước ở rừng Báng năm xưa, những g̣ ở xung quanh trông giống như hoa sen nở 8 cánh nên nhà Lư truyền ngôi được 8 đời.

Vua Lư Thái Tổ trị v́ 19 năm th́ mất, thọ 55 tuổi.

 

 ♦ Lư Thái Tông (1028-1054):

Niên hiệu:
- Thiên Thành (1028-1033);
- Thống Thuỵ (1034-1038);
- Càn Phù Hữu Đạo (1039-1041);
- Minh Đạo (1042-1043);
- Thiên Cảm Thánh Vơ (1044-1048);
- Sùng Hưng Đại Bảo (1049-1054).

Vua Lư Thái Tổ sinh 5 Hoàng Tử: Thái Tông, Phật Mă, Dực Thánh Vương, Khai Quốc Bồ, Đông Chính Vương Lực, Vơ Đức Vương Hoảng, Phật Mă được phong làm Thái Tử.

Vua Thái Tổ vừa mất chưa làm lễ tế táng, các Hoàng Tử: Vơ Đức Vương, Dực Khánh Vương và Đông Chính Vương đă đem quân vây thành để tranh ngôi của Thái tử. Tướng Lư Nhân Nghĩa xin Hoàng thái tử đem quân ra chống cự. Khi quân của Thái tử và quân của các vương giáp trận, vơ vệ tướng quân Lê Phụng Hiểu tuốt gươm xông tới chém chết Vơ Đức Vương, Thấy vậy, Dực Khánh Vương và Đông Chính Vương xin về chịu tội, được vua Thái Tông tha tội và phục lại chức cũ.

Thái Tông luôn dạy dân tôn trọng phép nước, định rơ các bậc h́nh phạt, đối với các tội nhẹ, cho được lấy tiền chuộc tội. Hễ năm nào đói kém, hoặc đi đánh giặc về, vua đều giảm thuế cho dân. Ở trong cung, vua định rơ số hậu, phi và cung nữ: Ví như, hậu và phi: 13 người, ngự nữ 18 người, nhạc kỹ: 100 người. Tất cả các cung nữ đều phải học nghề thêu, dệt gấm vóc, khuyến khích triều thần dùng chế phẩm của họ.

Văn Miếu Quốc Tử Giám-1 công tŕnh nổi tiếng thời nhà Lư


Thời ấy giặc giă c̣n nhiều nên vua phải thân chinh đi trận mạc. Năm Mậu Dần(1038), có Nùng Tồn Phúc ở châu Quảng Nguyên (Lạng Sơn) làm phản, tự xưng là ChiêuThánh hoàng đế, lập A Nùng làm Hoàng hậu, đặt quốc hiệu là Trường Sinh rồi đem quân đi đánh phá các nơi. Năm sau, vua Thái Tông thân đi đánh được Nùng Tốn Phúc và con là Nùng Trí Thông đem về kinh xử tội. C̣n A Nùng và con là Nùng Trí Cao chạy thoát.

Năm Tân Tị (1041) Nùng Trí Cao cùng với mẹ về lấy được châu Thắng Do (gần châu Quảng Nguyên) lập ra nước Đại Lịch. Thái Tông sai tướng lên đánh, bắt được Nùng Trí Cao. Vua thương t́nh tha tội chết và cho làm Quảng Nguyên Mục và gia phong cho tước Thái Bảo. Nhưng năm Mậu Tư (1048), Nùng Trí Cao lại xưng là Nhân Huệ hoàng đế, quốc hiệu là Đại Nam chống lại triều đ́nh.Vua sai tướng Quách Thịnh Dật lên đánh. Nùng Trí Cao đem quân sang đánh Ung Châu rồi lần lượt 8 châu khác thuộc về Quảng Đông, Quảng Tây của nhà Tống. Vua Tống cử Địch Thanh cùng nhiều tướng giỏi đi đánh Nùng Trí Cao. Nhưng đánh măi không được. Chỉ đến khi người Đại Lư vừa bắt Nùng Trí Cao chém lấy đầu đem nộp nhà Tống, giặc Nùng mới tan. Năm Giáp Thân (1044), Chiêm Thành nhiều lần đem quân quấy rối vùng biên giới, vua thân chinh đánh dẹp, tiến vào kinh đô nước Chiêm, chém vua Chiêm.

Vua Lư Thái Tông cũng rất chú ư đến việc lập pháp. Dưới thời ông trị v́, năm Nhâm Ngọ (1042), bộ luật thành văn đầu tiên của nước ta được ban hành. Đó là bộ luật “H́nh thử”. Vua Thái Tông trị v́ được 27 năm, đến năm Giáp Ngọ (1054) th́ mất, thọ 55 tuổi.

 Lư Thánh Tông (1054-1072):
 
Đền thờ Lư Thường Kiệt-1 vị tướng giỏi thời Lư

Niên hiệu:
- Long Thuỵ Thái B́nh (1054-1058);
- Chương Thánh Gia Khánh (1059-1065);
- Long Chương Thiên Tự (1066-1067);
- Thiên Chúc Bảo Tượng (1068);
- Thần Vơ (1069-1072)
.

Vua Lư Thái Tông có 2 con trai là Thái tử Nhật Tôn và hoàng tử Nhật Trung.

Vua Lư Thái Tông cũng giống các vua Lư đời trước, tuy đóng đô ở Thăng Long nhưng t́nh cảm thường gắn bó với đồng ruộng và thương dân. V́ vậy, đến mùa xuân vua thường về phủ Thiên Đức xem hội hè, lễ Phật, xem cấy lúa, đánh cá, mùa hè xem gặt hái, nghỉ mát và tu dưỡng.

Vua Lư Thánh Tông thương dân nên trăm họ đều yêu mến, nước ít giặc giă. V́ muốn khai hoá cho dân, vua lập Văn Miếu, lập tượng Chu Công, Khổng Tử và 72 vị tiên hiền để thờ. Văn Miếu được xây năm 1072.

Ngoài việc thực hiện nền chính trị nhân đạo thân dân, vua Lư Thánh Tông c̣n là người để tâm đến đạo Phật, vua đă cho xây cất nhiều chùa chiền và là người sáng lập phái Phật giáo Thảo Đường. Lư luận của Thảo Đường thoả măn sự đ̣i hỏi của vua muốn phát triển ư thức dân tộc, muốn tự lập tự cương, chống sự xâm lăng của Bắc Tống, hoà hợp với Khổng học tạo nên sự thống nhất giữa ư chí và hành động của giới tu hành, thứ dân, nhằm xây dựng một Đại Việt hùng mạnh. Khác với các triều đại trước, Lư Thánh Tông đem đạo vào đời, mà cuộc đời ấy theo nhà vua, phải lấy việc phụng sự dân tộc, lấy sự đồng tâm nhất trí làm mục đích để tập trung vào hành động thiết thực, cứu thế bằng đức tin. Vua đă t́m thấy Phật học triết lư sinh thành dưỡng dục dại lâu dài nối tiếp, là phương tiện dạy cho dân hiểu ḿnh là ai, lấy ư chí tự cường để chiến thắng số mệnh, phụng sự cho sự phồn vinh bền vững của quốc gia. Cũng do vậy dân chúng Đại Việt t́m thấy nguồn cảm hứng vừa sâu rộng vừa cao siêu của ḿnh của t́nh yêu hiện thực và đại đồng Phật giáo. Ở ḷng từ bi bác ái cứu nạn cứu khổ, cứu vớt chúng sinh. Nhân dân đến với đạo không phải v́ chán ngán cuộc đời mà v́ muốn sống cuộc đời cao cả là đời sống tâm linh. Nhưng nhà tu hành đời Lư không phải là những người chán đời đi ở ẩn mà là những người xuất thế để nhập thế, những người có học vấn muốn giúp người, V́ vậy, đời Lư người tu hành xuất hiện khắp nơi. Chùa và đ́nh thất mọc lên khắp nước. Kiến trúc chùa chiền thời ấy rất giản dị, dịu mát ẩn dưới bóng đa linh thiêng và tôn kính.

Binh pháp thời Lư Thánh Tông có tiếng là giỏi. Nhà Tống đă phải dụng tâm học cách tổ chức phiên chế quân đội của ta.

Năm Nhâm Tí (1072), Lư Thánh Tông mất đột ngột, trị v́ được 17 năm, thọ 50 tuổi.

 ♦  Lư Nhân Tông (1072-1127):
 

Niên hiệu:
- Thái Ninh (1072-1075);
- Anh Vơ Chiêu Thắng (1076-1084);
- Quang Hữu (1085-1091);
- Hội Phong (1092-1100);
- Long Phù (1101-1109);
- Hộ Tường Đại Khánh (1110-1119);
- Thiên Phù Duệ Vơ (1120-1126);
- Thiên Phù Khánh Thọ (1127).

Vua Lư Thánh Tông sinh được Thái tử Càn Đức, con Nguyên phi Ỷ Lan. Thánh Tông mất, Càn Đức mới 7 tuổi lên nối ngôi lấy hiệu là Lư Nhân Tông.

Vua Nhân Tông c̣n nhỏ nhưng nhờ có Thái phi Ỷ Lan làm nhiếp chính, lại thêm Thái sư Lư Đạo Thành và Phụ quốc Thái uư Lư Thường Kiệt, những khối óc lớn thời ấy giúp sức, nên nước Đại Việt trở nên hùng mạnh.

Về đối nội, Vua Nhân Tông cho đắp đê Cơ Xá, khởi đầu việc đắp đê ngăn lũ ở nước ta, nhằm giữ cho kinh thành khỏi ngập lụt.

Năm Ất Măo (1075) vua mở khoá thi tam trường, c̣n gọi là Minh Kinh bác học để chọn người có tài văn học vào làm quan. Khoa thi ấy ở khoa thi đầu tiên ở nước ta chọn 10 người, thủ khoa là Lê Văn Thịnh. Về sau, Lê Văn Thịnh làm đến chức Thái sư (tể tướng), tỏ rơ là người có tài xuất chúng. Cuối đời vua nghi ngờ Lê Văn Thịnh làm phản, Thịnh bị đầy lên Thao Giang (Tam Nông, Phú Thọ) và đă chết oan tại đó.

Năm Bính Th́n (1076), vua cho lập Quốc Tử Giám-trường đại học đầu tiên của nước ta, chọn những nhà nho giỏi vào dạy. Đến năm Bính Dần (1086) mở khoa thi chọn người có tài văn học vào Hàn lâm viện. Khóa ấy có Mạc Hiền Tích đỗ đầu, được bổ Hàn lâm học sĩ.

Năm Kỷ Tỵ (1089) vua Nhân Tông định quan chế, chia văn vơ 9 phẩm, quan đại thần có Thái Sư, Thái Phó, Thái uư, Thiếu sư, Thiếu uư, ở dưới những bậc ấy, về văn ban có Thượng thư, tả hữu Tham trí, Tả hữu Gián nghị đại phu, Trung thu thị lang. Về vơ ban có Đô Thống, Nguyên Suư, Tổng quản khu mật sứ, khu mật tả hữu sứ, Kim ngô thượng tướng, Đại tướng, Đô tướng, Chư vệ tướng quân...

Ở các châu quận, văn th́ có tri phủ, tri châu; vơ th́ có Chư lộ trấn, lộ quan.

Năm Đinh Tỵ (1077), khi Tống triều cử Quách Quư, Triệu Tiết đem đại binh sang xâm lược Với toàn quyền điều khiển triều đ́nh, Hoàng Thái hậu Ỷ Lan và Phụ quốc thái uư Lư Thường Kiệt đă huy động được cả dân tộc vào trận, tạo cho thế nước ở đỉnh cao ngàn trượng đè bẹp quân thù. Nước Đại Việt đă ra khỏi cuộc chiến tranh với hào quang chiến thắng quanh vương miện để bước nhanh trên con đường cường thịnh, văn hiến.

Vua Lư NhânTông làm vua đến năm Đinh Mùi (1127) th́ mất, trị v́ được 56 năm, thọ 63 tuổi.

Nguyên Phi Ỷ Lan:
Nói đến triều Lư không thể không nói đến Ỷ Lan, một trong những danh nhân có tài trị nước của dân tộc. Trên thật của Ỷ Lan là Lê Thị Yến, quê làng Thổ Lỗi sau đổi thành siêu loại (Thuận Thành, Bắc Ninh) nay thuộc Gia Lâm, Hà Nội. V́ mẹ mất từ lúc 12 tuổi, cha lấy vợ kế nên thân phận Ỷ Lan khổ như cô Tấm trong chuyện cổ tích. Sử ghi, Ỷ Lan là cô tấm lộ Bắc, hay gọi đền thờ Ỷ Lan ở Dương Xá (Gia Lâm, Hà Nội) là đền thờ Bà Tấm là v́ thế.

Năm Nhâm Tuất (1072), vua Lư Thánh Tông đột ngột qua đời, triều Lư không tránh khỏi rối ren. Nhưng khi Ỷ Lan trở thành Hoàng thái hậu nhiếp chính và Lư Thường Kiệt nắm quyền tể tướng th́ Đaị Việt lại khởi sắc, nhanh chóng thịnh cường. Ỷ Lan đă thi hành những biện pháp dựng nước yên dân, khiến cho thế nước và sức dân đă mạnh hẳn lên. Năm Đinh Tỵ (1077), Tống triều phát đại bệnh sang xâm lược. Để Lư Thường Kiệt rảnh tay lo việc trận mạc, Thái hậu Ỷ Lan đă bỏ qua hiềm khích cũ, điều Lư Đạo Thành từ Nghệ An về, trao chức thái sư như cũ, để cùng ḿnh điều khiển triều đ́nh huy động sức người sức của vào trận. Nhờ vậy nước Đại Việt đă làm nên chiến thắng hiển hách. Quân giặc hùng hổ toan làm cỏ nước Đại Việt đă phải cam chịu thất bại, lủi thủi rút quân về nước.

Làm nên chiến thắng này, công Thái hậu Ỷ Lan thực lớn. Nhưng trong đời Ỷ Lan không phải không có t́ vết. Sau khi vua Lư Thánh Tông qua đời, Hoàng hậu Thượng Dương dựa vào thế lực của Thái sư Lư Đạo Thành, đă gạt Ỷ Lan ra khỏi triều đ́nh. Măi 4 tháng sau, có Lư Thường Kiệt giúp sức, Ỷ Lan mới trở lại nắm quyền nhiếp chính. Bà đă bắt giam Hoàng hậu Thượng Dương cùng 72 cung nữ vào lănh cung, bỏ đói cho đến chết. V́ tội trạng ấy, sử sách phong kiến đă xoá sạch mọi công lao của bà đối với dân nước, mà quên mất rằng trong nghiệp làm chính trị, đó là chuyện thường thấy.

♦ Lư Thần Tông (1128-1138):

Niên hiệu: Thiên Thuận; Thiên Chương Bảo Tự (1133-1137).
Vua Lư Nhân Tông không có con trai, lập con của hoàng đệ Sùng Hiền hầu Dương Hoán lên làm Thái Tử, nay kế vị ngôi Hoàng đế tức là vua Thần Tông.

Thần Tông vừa lên ngôi liền đại xá cho các tù phạm và trả lại ruộng đất tịch thu của quân dân ngày trước. Vua thực hiện chính sách ngụ binh ưa nông, cho binh lính đổi phiên cứ lần lượt 6 tháng một lần được về làm ruộng. Do vậy, sản xuất nông nghiệp phát triển. Dân no đủ nên giặc giă cũng ít. Thần Tông làm vua được10 năm, thọ 23 tuổi.

 ♦ Lư Anh Tông (1138-1175):

Niên hiệu:
- Thiên Minh (1138-1139)
- Đại Đinh (1140-1162)
- Chính Long Bảo Ứng (1163-1173)
- Thiên Cảm Chí Bảo (1174-1175)

Vua Lư Thần Tông có 2 con trai là Thiên Lộc và Thiên Tộ. Thần Tông mất, triều đ́nh tôn Thái tử Thiên Tộ lên làm vua, hiệu là Anh Tông.

Lư Anh Tông kế vị ngôi vua mới có 3 tuổi. Bởi vậy thái hậu Lê Thị cầm quyền nhiếp chính. Lê Thái hậu lại tư thông với Đỗ Anh Vũ, cho nên mọi việc lớn nhỏ trong triều đều nằm trong tay vị đại thần họ Đỗ này cả. Đỗ Anh Vũ được thể ra vào cung cấm, Thấy Anh Vũ lộng quyền, các quan Vũ Đái, Nguyễn Dương, Nguyễn Quốc và Dương Tự Minh bàn mưu trừ khử. Việc bại lộ, tất cả bị Anh Vũ giết hại. May thay triều đ́nh lúc đó có nhiều tôi giỏi như Tô Hiến Thành, Hoàng Nghĩa Hiền, Lư Công Tín nên tham vọng của Đỗ Anh Vũ đă bị chặn lại. Tô Hiến Thành chẳng những giúp vua đánh Đông dẹp Bắc, giữ cho nước được yên mà c̣n luyện tập quân lính, kén trọn những người tài giỏi cho làm tướng, coi quân trị dân. Bởi vậy, nước Đại Việt hồi ấy trở nên hùng mạnh.

Năm Tân Măo và năm Nhâm Th́n (1171-1172), vua dầy công đi qua những vùng núi non hiểm trở, quan sát sinh hoạt của dân rồi sai quan làm tập bản đồ nước Đại Việt.

Khi biết ḿnh sức yếu, Vua phong cho Tô Hiến Thành làm Thái phó B́nh chương quân quốc trọng sự và gia phong tước vương, đồng thời uỷ thác Thái tử là Long Cán cho Tô Hiến Thành giúp dạy

Anh Tông mất, trị v́ được 37 năm, thọ 40 tuổi, đổi niên hiệu 4 lần.

 ♦ Lư Cao Tông (1176-1210):

Niên hiệu:
- Trịnh Phù (1176-1185)
- Thiên Tư Gia Thuỵ (1186-1201)
- Thiên Gia Bảo Hựu (1202-1204)
- Trị B́nh Long Ứng (1205-1210)

Vua Anh Tông mất, Thái tử Long Cán chưa đầy 3 tuổi. Bà Chiêu Linh thái hậu muốn lập con cả của ḿnh tên là Long Xưởng lên làm vua bèn đem vàng bạc đút lót cho vợ Tô Hiến Thành. Nhưng Tô Hiến Thành nhất định không nghe cứ theo di chiếu lập Long Cán, tức vua Lư Cao Tông.

Năm Mậu Th́n (1208), ở Nghệ An có Phạm Du làm phản chiêu nạp bọn côn đồ đi cướp phá của dân. Vua Cao Tông sai quan quân đánh được Phạm Du, tịch biên gia sản, đốt phá nhà cửa của hắn. Phạm Du cho người về kinh lấy vàng đút lót các quan trong triều rồi vu cho Bỉnh Di làm việc hung bạo, giết hại người vô tội. Triều đ́nh cho Phạm Du vào triều kêu oan. Nghe lời Phạm Du, vua Cao Tông triệu Bỉnh Di hội triều rồi bắt giam ngay. Hay tin, một bộ tướng của Bỉnh Di là Quách Bốc đem quân phá cửa thành vào cứu Bỉnh Di. Thấy biến Cao Tông vội cho giết Bỉnh Di rồi đem gia quyến chạy lên vùng Tam Nông (Phú Thọ). Thái tử Sản th́ chạy về Hải Ấp (Làng Lưu Xá, Hưng Hà, Thái B́nh). Quách Bốc đem xác Bỉnh Di mai táng rồi vào điện tôn Hoàng tử Thẩm lên làm vua.

Thái tử Sản chạy về Hải Ấp vào ở nhà Trần Lư làm nghề đánh cá. Thấy con gái Trần Lư là Trần Thị Dung khoẻ mạnh, xinh đẹp bèn lấy làm vợ và phong cho Trần Lư tước Minh Tự, Tông Trung Tự, cậu Trần Thị Dung chức Điện tiền chỉ huy sứ.

Anh em họ Trần mộ quân giúp Thái tử Sản thu phục kinh thành rồi lên vùng Tam Nông, rước Cao Tông về kinh được 1 năm th́ mất (1210) trị v́ được 35 năm, thọ 38 tuổi, đổi niên hiệu 4 lần, thờ ở đền Đô.

 ♦
Lư Huệ Tông:

Niên hiệu: Kiến Gia.
Thái tử Sản là con trưởng của vua Cao Tông, sinh năm Giáp Dần (1194) khi vua Cao Tông mất Thái tử Sản lên nối ngôi lấy hiệu là Huệ Tông rồi sai quan quân đi đón Trần Thị Dung về phong làm Nguyên Phi. Lúc ấy Trần Lư đă bị quân cướp giết, con thứ là Trần Tự Khánh nắm binh quyền, Huệ Tông bèn phong cho Tự Khánh làm Chương Tín hầu và Tô Trung Từ làm Thái uư Thuận Lưu Bá.

Vốn không ưa Nguyên phi Trần Thị Dung, lại thấy họ Trần nắm giữ binh quyền. Đàm Thái hậu, mẹ vua Huệ Tông ra mặt hắt hủi Thị Dung. Trần Tự Khánh thấy em ḿnh bị đối xử tệ bạc liền đem quân về Kinh sư xin vua rước Thị Dung đi, Lư Huệ Tông nghi Trần Tự ngự nữ. Tự Khánh thấy vận thân đến quân môn xin lỗi và vẫn xin rước đi. Huệ Tông càng nghi, vội cùng với Đàm Thái hậu chạy lên Lạng Châu (Lạng Sơn). Tư Thái hậu về B́nh Hợp, Đàm Thái hậu cho rằng họ Trần muốn làm phản, thường chỉ mặt Trần Thị Dung xỉ vả và xui Huệ Tông bỏ Thị Dung, nhưng v́ mê đắm Thị Dung xinh đẹp bội phần, vua không nghe. Đàm Thái hậu mấy lần bỏ thuốc độc toan giết Thị Dung, nhưng vua đều cản được. Thường đến bữa vua ăn một nửa, một nửa dành cho người đẹp và ngày đêm giữ luôn bên ḿnh không cho đi đâu. Về sau, Thái hậu làm dữ quá, Huệ Tông đang đêm mang Trần Thị Dung trốn đến nhà Tướng quân Lê Mịch và cho đ̣i Trần Tự Khánh đến chầu. Tự Khánh đem quân đến hộ giá Vua về kinh. Huệ Tông phong cho Trần Thị Dung làm Hoàng Hậu, Trần Tự Khánh làm Phụ chính và người của Tự Khánh là Trần Thừa làm Nội thị phán thủ.

Tháng chạp năm Quư Mùi (1223), Trần Tự Khánh mất, vua Huệ Tông cho Trần Thừa làm Phụ Quốc thái uư, và năm sau, giao cho em họ Hoàng hậu là Trần Thủ Độ làm Điện tiền chỉ huy, Từ đó, mọi việc trong Triều đều do vị tướng trẻ Trần Thủ Độ định đoạt.

Vua Huệ Tông về cuối đời thường rượu chè say khướt ngủ cả ngày, không quan tâm đến việc triều chính. Vua không có con trai. Hoàng hậu Trần Thị chỉ sinh được hai công chúa. Người chị là Thuận Thiên công chúa đă gả cho Phụng Kiều Vương Trần Liễu, con cả của Trần Thừa. Người em là Chiêu Thánh công chúa tên là Phật Kim, mới 7 tuổi, được lập làm Thái Tử.

Tháng 10 năm Giáp Thân (1224), Lư Huệ Tông truyền ngôi cho Chiêu Thánh công chúa rồi vào ở chùa Chân Giáo sau mất ở đó. Huệ Tông trị v́ được 14 năm.

 ♦ Lư Chiêu Hoàng(1225):
Niên hiệu: Thiên Chương Hữu Đạo.
Chiêu Thánh công chúa c̣n có tên là Phật Kim, sinh vào tháng 9 năm Mậu Dần (1218).

Chiêu Thánh công chúa lên ngôi năm Giáp Thân (1224), tức là Lư Chiêu Hoàng. Vua c̣n nhỏ lên quyền binh ở cả Trần Thủ Độ. Trần Thủ Độ đưa các cháu vào cung cấm giữ các chức vụ lớn nhỏ.

Nguồn: TCDL

 

Thông tin khác
    Khái quát chung
    Khí Hậu
    Địa h́nh
    Tài nguyên
  
Tour khởi hành từ Hà nội

Tour Tham quan Hà nội

Tour Hạ long - Cát Bà

Tour Sapa - Bắc Hà

Thăm chiến trường xưa

Di sản Miền Trung

Nha Trang - Đà Lạt - Mũi Né

Hành tŕnh Xuyên Việt

 
 
Tour khởi hành Miền Trung

Tour khởi hành từ Huế

Tour khởi hành từ Đà nẵng

Tour khởi hành từ Nha Trang

Tour khởi hành từ Đà lạt

 
Tour khởi hành từ Sài g̣n

Tour Tham quan Sài g̣n

Soạn: AM 882601 gửi đến 996 để nhận ảnh này

Tour Du lịch Mekong

Nha Trang - Đà lạt - Mũi Né

Hành tŕnh di sản Miền Trung

 
 
 
 
 
 
   © Copyright Công ty Cổ phần Tập đoàn NTT    
Cruise Halong | Vietnam Cheap Tours | Viajar a Vietnam | Du lịch Cao Cấp | Tour Du lịch | Du lịch Việt Nam | Vietnam Viajes | Vietnam Hotels | Vé tàu hỏa
Vé tàu Sapa | Du lịch Tây Nguyên | Dịch Vụ Cho thuê xe | Hanoi Travel | Ohayo Tours