English

 
Trang chủ | Tour Du lịch | Thông tin Việt Nam | Thông tin Du lịch | Danh bạ Du lịch | Dịch vụ bổ trợ | Vui chơi / Giải trí | Cửa hàng lưu niệm
 Thông tin Việt Nam
Khái quát chung
Lịch sử Việt Nam
  Quốc hiệu
  Thời tiền sử
  Thời kỳ dựng nước
  Giai đoạn Bắc thuộc
  Giai đoạn độc lập
  Giai đoạn Pháp thuộc
  Nước Việt Nam
Văn hóa & Nghệ thuật
Lễ hội
Sứ quán/Lănh sự quán
Văn bản pháp luật
 Thông tin Du lịch
Địa danh du lịch
Bản đồ Việt Nam
Thị thực nhập cảnh (Visa)
Khí hậu Việt Nam
Thông tin cần thiết
Thống kê du lịch
Dự án đầu tư du lịch
Các thông tin khác
 Danh bạ du lịch
Công ty du lịch
Khách sạn
Nhà hàng
 Dịch vụ bổ trợ
Vé máy bay
Vé tàu hỏa
Vé open bus
Vé tàu thủy cao tốc
 Vui chơi / Giải trí
Biểu diễn nghệ thuật
Sân Golf
Món ăn
Bảo tàng & pḥng tranh
Các điểm du lịch Đặc sắc
  Cửa hàng lưu niệm
Bản đồ
Đồ lưu niệm
Sách & Hướng dẫn
CD & DVD
Đồ Mỹ nghệ
 

Hỗ trợ trực tuyến

Send message

Tel: (04) 39.059.059
Fax: (04) 3933.4659
Hotline: 0944 916 916

 

Số lượng Khách truy cập

 
Tour du lịch Quốc tế

Tour du lịch Thái lan

Tour Du lịch Singapore

Tour Du lịch Malaysia

Tour Du lịch Campuchia

Tour Du lịch Lào

Tour Du lịch Hồng Kông

Tour Du lịch Trung Quốc

 
  Lịch Sử Việt Nam

Cac doi chua Nguyen, Lich Su Viet Nam, Các đời chúa Nguyễn

Các đời chúa Nguyễn tồn tại 203 năm (1600-1802), trải qua 10 đời chúa, bao gồm:
 

Nguyễn Hoàng (1600-1613)
Nguyễn Phúc Nguyên (1613-1635)
Nguyễn Phúc Lan (1635-1648)
Nguyễn Phúc Tần (1648-1687)

Nguyễn Phúc Trăn (1687-1691)
Nguyễn Phúc Chu (1691-1725)
Nguyễn Phúc Chú (1725-1738)
Nguyễn Phúc Khoát (1738-1765)
Nguyễn Phúc Thuần (1765-1777)
Nguyễn Phúc Ánh (1780-1802)

Nam triều - Bắc triều (1533-1593)
Trịnh - Nguyễn phân tranh

Các đời chúa Trịnh (1545-1787)
Các đời chúa Nguyễn (1600-1802)

 


 
 ♦ Nguyễn Hoàng (1600-1613): 
 
Nguyễn Hoàng, người Gia Miều ngoại trang, Tống Sơn, Hà Trung, Thanh Hoá, sinh tháng 8 năm Ất Dậu (1525), là con thứ hai của Nguyễn Kim. Tổ tiên họ Nguyễn là một danh gia vọng tộc ở Thanh Hoá. 
 
Cha Nguyễn Hoàng là Nguyễn Kim, con trưởng của Nguyễn Hoằng Dụ, làm quan dưới triều Lê, chức Hữu vệ Điện tiền tướng quân tước An Thanh hậu. Khi Mạc lấy ngôi vua họ Lê, Nguyễn Kim đem con em lánh sang Ai Lao, thu nạp hào kiệt, tính cuộc trung hưng nhà Lê từ bên đất Ai Lao và được phong Thượng phụ Thái sư Hưng quốc công trưởng nội ngoại sự. Năm Canh Tí (1540) Nguyễn Kim đem quân về chiếm Nghệ An. Năm Nhâm Dần (1542) ra Thanh Hoá cùng với vua Lê chiếm lại Tây Đô, sự nghiệp trung hưng nhà Lê do tay Nguyễn Kim tạo dựng buổi ban đầu đang đà lớn mạnh. Năm Ất Tị (1545), Kim bị hàng tướng nhà Mạc là Dương Chấp Nhất đầu độc chết, thọ 78 tuổi. Quyền hành từ đó rơi vào tay Trịnh Kiểm, con rể Nguyễn Kim.
 
Khi Nguyễn Kim chạy sang Ai Lao th́ Nguyễn Hoàng mới lên hai tuổi, được Thái Phó Nguyễn Ư Dĩ nuôi dạy nên người. Lớn lên, Hoàng làm quan cho triều Lê, tước phong đến Hạ Khê hầu, từng đem quân đánh Mạc Phúc Hải, lập công lớn, vua Lê phong cho tước Đoan quận công.
 
Trịnh Kiểm là anh rể, muốn thâu tóm quyền hành nên loại bỏ uy thế các con Nguyễn Kim: Nguyễn Uông, con trưởng bị hăm hại, Nguyễn Hoàng Đan bị ghen ghét. Hoàng biết, bèn cáo bệnh nằm nhà, giữ ḿnh tránh ngờ.
 
Nguyễn Hoàng t́m cách trả thù họ Trịnh, băn khoăn chưa biết nên làm ǵ bèn sai người đến hỏi Trạng Tŕnh Nguyễn Bỉnh Khiêm, th́ được tâu: "Hoành Sơn nhất đái, vạn đại dung thân" (Một dải núi Hoành Sơn có thể dung thân muôn đời). Hoàng hiểu ra, nhờ chị gái là Ngọc Bảo nói với Kiểm cho Hoàng vào trấn thủ Thuận Hoá. Đất ấy hiểm trở, xa xôi, khí hậu khắc nghiệt, lại là mặt Nam, quân Mạc có thể dùng thuyền vượt biển đánh sau lưng. Kiểm đồng ư và dâng biểu tâu vua trao quyền cho Nguyễn Hoàng là trấn thủ Thuận Hoá, toàn quyền xử lư mọi việc. Hoàng đem người nhà và quân bản bộ vào Nam năm Mậu Ngọ (1558), khi 34 tuổi. Cùng đi c̣n có nhiều đồng hương Tống Sơn và Nghĩa Dũng, Thanh Hoá.
 
Thủa đầu, Nguyễn Hoàng dựng dinh trại ở xa Ái Tử, huyện Đăng Xương (Triệu Phong, Quảng Trị). Hoàng biết khéo vỗ về quân dân, thu dùng hào kiệt, sưu thuế nhẹ nhàng, được người người mến mộ gọi là "Chúa Tiên".
 
Khoảng 40 năm đầu vào vùng đất mới, Nguyễn Hoàng chú trọng khai hoang lập ấp, phát triển kinh tế gây nuôi lực lượng tính kế lâu dài, bên ngoài vẫn giữ quan hệ b́nh thường và hoàn thành tốt nghĩa vụ đối với vua Lê ngoài Bắc. Công cuộc khẩn hoang và chính sự rộng răi của Nguyễn Hoàng đă đem lại hiệu quả rơ rệt về mọi mặt.
 
Tháng 2 năm Quư Dậu (1573), vua Lê sắc phong Nguyễn Hoàng là Thái phó, cần tích dự trữ thóc lúa ở biên giới, hàng năm nộp thuế 400 cân vàng bạc, 500 tấn lúa. Mỗi lần có triều thần vào kiểm tra thuế khoá của trấn, Nguyễn Hoàng khéo tiếp đăi biết lấy ḷng, v́ thế Hoàng chỉ đệ tŕnh sổ sách do Hoàng sai người lập ra. Chính nhờ đó mà thu nhập của chúa Nguyễn ở Đàng Trong ngày càng tăng nhanh. Ngoài Bắc, vua Lê liền năm phải đem quân đánh Mạc, quân dụng thiếu thốn, đất Thuận Quảng lại "liền mấy năm được mùa, trăm họ giầu thịnh". Nguyễn Hoàng c̣n đem tiền thóc ra giúp vua Lê.
 
Tháng 5 năm Quư Tị (1593) biết Lê Trịnh đă đánh tan quân Mạc, lấy lại được Đông Đô, Hoàng liền đem quân ra yết kiến vua Lê. Vua Lê khen ngợi công lao trấn thủ đất phía nam, tấn phong Hoàng làm Trung quân đô đốc phủ tả đô đốc trưởng phủ sự thái uư Đoan Quốc công.
 
Nguyễn Hoàng từng lưu lại ở miền Bắc với nhà Lê đến 7 năm, nhiều lần đem quân đánh dẹp dư đảng nhà Mạc ở Kiến Xương (Thái B́nh) và Hải Dương, lập được công lớn. Người con trai thứ hai của Nguyễn Hoàng tên là Hán, được vua phong tả đô đốc Lỵ quận công, theo Nguyễn Hoàng đánh Mạc ở Sơn Nam bị tử trận. Con Hán là Hắc được lập ấm.
 
Nguyễn Hoàng đă nhiều lần theo hầu vua Lê lên hội khám với nhà Minh ở Trấn Nam quan để nhận sắc phong cho vua Lê. Năm Kỷ Hợi (1599) vua Lê băng hà, con thứ là Duy Tân lên ngôi, Nguyễn Hoàng được phong là Hữu tướng.
 
Năm Canh Tư (1600), đem quân dẹp các tướng nổi loạn: Phan Ngạn, Ngô Đ́nh Nga và Bùi Văn Khê ở Nam Định, Nguyễn Hoàng cùng bản bộ ra biển dong thẳng vào Thuận Hoá, để con trai thứ 5 là Hải và cháu là Hắc ở lại làm con tin. Sau đó, vua Lê sai sứ giả vào phủ dụ. Vẫn để Nguyễn Hoàng trấn thủ đất Thuận Quảng, hàng năm nộp thuế má đầy đủ. Trịnh Tùng cũng gửi thư kèm theo khuyên giữ tốt việc thuế cống. 
 
Tháng 10 năm Canh Tư (1600), Nguyễn Hoàng gả con gái là Ngọc Tú cho Trịnh Tráng (con cả Trịnh Tùng). Từ đó Nguyễn Hoàng không ra Đông Đô nữa. Trịnh Tùng cũng chẳng dám động chạm đến việc ấy nữa. Có thể nói từ năm 1600, Nguyễn Hoàng bắt đầu xây dựng một giang sơn riêng cho họ Nguyễn. Hoàng dáo diết xây dựng vùng đất mới này có đầy đủ mọi mặt: tổ chức hành chính, mở rộng đất xuống phía nam. Một loạt chùa chiền thờ Phật cũng được xây cất trong dịp này: Thiên Mụ, Bảo Chấn... Dân chúng ngoài Bắc mất mùa đói kém chạy vào nam theo chúa Nguyễn khá đông.
 
Năm Quư Sửu (1613) Nguyễn Hoàng đă già và mệt nặng. Nguyễn Hoàng mất thọ 89 tuổi, có 10 con trai, trấn thủ Thuận Quảng được 56 năm (1558-1613). Sau này Triều Nguyễn truy tôn là Thái tổ Gia dụ hoàng đế.
 
 ♦ Nguyễn Phúc Nguyên (1613-1635): 
 
Nguyễn Phúc Nguyên là con thứ sáu của Nguyễn Hoàng. Mẹ Phúc Nguyên họ Nguyễn. Bấy giờ các con trai của Nguyễn Hoàng là Hà, Hán, Thành, Diễn đều đă mất trước. Người con trai thứ 5 là Hứa đang làm con tin ngoài Bắc, v́ thế Phúc Nguyên là con thứ 6 được nối nghiệp, bấy giờ đă 51 tuổi.
 
Vua Lê sai sứ giả vào viếng và truy tặng Nguyễn Hoàng là Cẩn Nghi công, cho Phúc Nguyên làm trấn thủ Thuận Quảng với hàm Thái Bảo, tước Quận công. Phúc Nguyên lên nối ngôi, sửa đắp thành luỹ đặt quan ải vỗ về quân dân, trong ngoài đều vui phụng, bấy giờ người ta gọi Nguyên là chúa Phật. Kể từ Nguyễn Phúc Nguyên, họ Nguyễn ở Đàng Trong xưng quốc tính là Nguyễn Phúc.
 
Năm Kỷ Mùi (1619), Trịnh Tùng đem quân vào đánh chúa Nguyễn ở Thuận Quảng, từ đấy chúa Nguyễn không nộp thuế cống nữa.
 
Nguyễn Phúc Nguyên có Đào Duy Từ giúp sức càng vững mạnh hơn. Đào Duy Từ được Trần Đức Hoà tiến cử lên chúa Nguyễn năm Đinh Măo (1627) Nguyễn Phúc Nguyên mừng lắm, phong cho Duy Từ tước Lộc kê hầu, chức Nha Nội uư nội táng. Duy Từ bày cho chúa Nguyễn kế sách trả lại sắc phong của vua Lê, không chịu nộp thuế cống cho họ Trịnh, đắp luỹ Trường Dục, luỹ Thầy để pḥng ngự, chống lại quân Trịnh. Kế sách của Duy Từ được chúa Nguyễn làm theo.
 
Đào Duy Từ cũng bày cho chúa Nguyễn phép duyệt đinh, tuyển lính, thu thuế theo các bậc hạng, ngạch bậc khác nhau. Nhờ có việc thuế và huy động đóng góp của dân chúng được công bằng và ổn định. Tiềm lực quân sự và kinh tế của chúa Nguyễn ngày càng mạnh.
 
Đào Duy Từ c̣n tiến cử cho chúa Nguyễn một viên tướng tài ba, mưu lược như thần: Nguyễn Hữu Tiên. Quân lực Nguyễn từ đó ngày thêm mạnh. Đào Duy Từ chỉ giúp chúa Nguyễn 8 năm mà cơ nghiệp chúa Nguyễn thay đổi hẳn về chất, đất Đàng Trong trở nên có văn hiến và quy củ.
 
Năm Giáp Tuất (1634) Đào Duy Từ bị bệnh nặng rồi mất , thọ 63 tuổi. Chúa Nguyễn thương tiếc, truy tặng Hiệp mưu đồng đức công thần đặc tiến Kim tử vinh lộc đại phu, đưa về táng ở đất Tùng Châu (B́nh Định). Công lao của Từ đứng đầu công thần khai quốc nhà Nguyễn. 
 
Một năm sau, năm Ất Hợi (1635) chúa Nguyễn Phúc Nguyên cũng qua đời, ở ngôi 22 năm, thọ 73 tuổi, truyền ngôi cho con thứ hai là Nguyễn Phúc Lan. Sau triều đ́nh Nguyễn truy tôn là Hy Tông Hiến Văn Hoàng đế. Nguyễn Phúc Nguyên có 11 con trai.
 
 ♦ Nguyễn Phúc Lan (1635-1648): 
 
Vợ Nguyễn Phúc Nguyên là con gái Mạc Kính Điển. Khi Kính Điển bại vong, bà theo chú là Cảnh Huống chạy vào Nam, cùng với chú ẩn ở chùa Lam Sơn, đất Quảng Trị. Nguyễn Thị Ngọc Dương, vợ Cảnh Huống lại là d́ ruột của Nguyễn Phúc Nguyên, nhân đó bà tiến cháu ḿnh vào hầu chúa Nguyễn từ khi chưa lên ngôi. Bà vợ họ Mạc này sinh được năm con trai.
 
Mùa hạ năm Tân Mùi (1631), Hoàng tử cả là Kỳ mất, Phúc Lan là con thứ hai được lập làm Thế tử, mở dinh Thuận Nghĩa. Năm Ất Hợi (1635), chúa Nguyễn Phúc Nguyên mất, Phúc Lan được nối ngôi, lúc này ông đă 35 tuổi, gọi là chúa Thượng.
 
Nghe tin Lan được nối ngôi, trấn thủ Quảng Nam là Anh nổi lên, bí mật đầu hàng họ Trịnh, mưu cướp ngôi chúa. Anh cho đắp luỹ Cu Đê để cố thủ và bày thuỷ quân ở cửa biển Đà Nẵng chống lại chúa. Phúc Lan đánh bắt được, không nỡ giết kẻ ruột thịt, nhưng tướng lĩnh đều xin giết để trừ hậu hoạ, kể cả đồng đảng có tên trong sổ "Đồng Tâm".
 
 Năm Kỷ Măo (1639), vợ của Tôn Thất Kỳ là Tống Thị vào yết kiến chúa Nguyễn. Tống Kỳ xinh đẹp lại khéo ứng đối, nhân vào gặp chúa, kêu khổ, xin chúa thương t́nh và biếu chúa chuỗi ngọc Vạn hoa. Phúc Lan thương t́nh cho lưu lại trong phủ. Thị thần có người can, chúa không nghe.
 
Năm Canh Th́n (1640) quân Nguyễn do Nguyễn Hữu Dật thống suất đă chiếm được Bắc Bố Chính. Trịnh Tráng viết thư xin lại, chúa Nguyễn ra lệnh đồng ư. Từ đó Phúc Lan thấy việc biên cương không đáng lo nữa, rơi vào chăm vui yến tiệc, xây dựng cung thất, công dịch không ngớt, việc thổ mộc nặng nề, tốn kém, nhưng c̣n may là quân thần can ngăn. Tức th́ băi bỏ việc xây dựng.
 
Lại nói đến Tống Thị, khi đă được vào cung, đưa đón, thỉnh thác lấy ḷng chúa rất khéo, của cải thị chất đầy. Chưởng cơ Tôn Thất Trung mưu giết thị. Tống Thị viết thư và gửi một chuỗi ngọc nhờ cha là Tống Phúc Tông (ở đất Trịnh) đem biếu chúa Trịnh, xin Trịnh Tráng cất quân đánh Nguyễn. Tống Thị nguyện đem gia tài giúp quân lương. Tráng nhận được thư, liền đem các đạo quân thuỷ bộ vào đánh. Nguyễn Phúc Lan phải tự cầm quân đánh lại. Về sau, Nguyễn Phúc Lan không được khoẻ, trao binh quyền cho con trai là Nguyễn Phúc Tần và tướng Nguyễn Hữu Dật. Nhiều trận đánh lớn đă xảy ra, quân Nguyễn đại thắng bắt được vô số tù binh của Trịnh.
 
Trên đường rút quân, đến phá Tam Giang, Phúc Lan mất trên thuyền ngự. Chúa ở ngôi 13 năm, thọ 28 tuổi. Thế tử Nguyễn Phúc Tần khóc mời chú lên ngôi gánh vác việc nước. Ông chú tử tế đă khuyên cháu lên ngôi cho danh chính ngôn thuận. Nguyễn Phúc Tần theo lời, lên nối ngôi, truy tôn cha là Thần tô hiến chiêu Hoàng đế.
 
 ♦ Nguyễn Phúc Tần (1648-1687): 
 
Nguyễn Phúc Lan có bà vợ họ Đoàn, con gái thứ 3 của Thạch Quận công Đoàn Công Nhạc, người huyện Diên Phúc, tỉnh Quảng Nam. 
 
Nguyễn Phúc Tần sinh năm Canh Thân (1620). Lúc đầu, được phong phó tướng Dũng lễ hầu, từng đánh giặc ở cửa biển, được chúa Phúc Lan rất ngợi khen. Năm Mậu Tư (1648), được tấn phong là Tiết chế chủ quân, thay Phúc Lan phá quân Trịnh ở sông Gianh, bấy giờ 29 tuổi. Nguyễn Phúc Lan mất đột ngột, bầy tôi tôn Phúc Tần lên ngôi chúa, gọi là chúa Hiền.
 
Chúa Hiền là người chăm chỉ chính sự, không chuộng yến tiệc vui chơi. Phúc Tần biết trọng dụng hai tướng giỏi là Nguyễn Hữu Dật và Nguyễn Hữu Tiến. Nhờ đó chúa Nguyễn nhiều lần vượt sông Gianh tiến ra đất Đàng Ngoài. Năm 1656, sau hai năm tấn công ra Bắc, quân Nguyễn đă chiếm được 7 huyện của Nghệ An. Tự thân Nguyễn Phúc Tần đă đem quân ra đến Nghệ An, đóng tại xă Vân Cát. Quân Nguyễn c̣n có thể tiến sâu vào đất đối phương thêm nữa, nhưng phía nhà Trịnh, Trịnh Tráng mất, con là Trịnh Tạc lên ngôi đang chịu tang, chúa Nguyễn cho người sang điếu, rồi rút quân về, lưu các tướng đóng đồn từ Sông Lam trở về Nam, đắp luỹ từ núi đến cửa biển để làm thổ pḥng ngự. Sau đợt tấn công đó, quân Nguyễn c̣n chiếm đất Nghệ An thêm 5 năm nữa, năm Canh Tí (1660) Trịnh mới khôi phục lại được. Từ đó Trịnh và Nguyễn cầm cự nhau suốt hàng chục năm, không phân thắng bại.
 
Năm Ất Măo (1675), Hoàng tử thứ tư của chúa Nguyễn là Nguyên Soái Nguyễn Phúc Hiệp mất. Hiệp là tướng giỏi cầm quân. Năm Kỷ Mùi (1679), chúa Nguyễn cho phép Dương Ngạn Địch, một tướng của triều Minh cùng với Trần Thượng Xuyên... đem gia thuộc hơn 3000 người và hơn 50 chiến thuyền khai phá vùng đất Gia Định, Mỹ Tho. Từ đó mọc lên các phố xá buôn bán ở vùng đất mới này, thuyền buôn của người Thanh và các nước Tây phương, Nhật Bản đi lại tấp nập, do đó văn hoá ngày càng mở mang.
 
Những năm sau đó: Bính Ngọ (1666), Nguyễn Hữu Tiến mất, rồi năm Tân Dậu (1681), Nguyễn Hữu Dật mất, phía chúa Nguyễn bị tổn thất lớn. Riêng đối với Nguyễn Hữu Dật, sau khi chết, dân Quảng B́nh tiếc nhớ, gọi là Bồ Tát, lập đền thờ ở Thạch Xá.
 
Dưới thời chúa Hiền, nhiều kênh đào dẫn nước tưới ruộng được khơi đào, như Trung Đan, Mai Xá. Bấy giờ bờ cơi vô sự, thóc được mùa, chúa càng sửa sang chính sự, không xây đài tạ, không cần gái đẹp, bớt nhẹ giao dịch thuế má, trăm họ vui vẻ, mọi người đều khen là đời đời thái b́nh.
 
Năm Đinh Măo (1687) chúa không được khoẻ. Mất năm 68 tuổi, ở ngôi 39 năm, có 6 người con trai.
 
  ♦ Nguyễn Phúc Trăn (1687-1691): 
 
Nguyễn Phúc Tần có hai bà vợ chính. Bà họ Chu là cả, theo hầu chúa từ khi c̣n chưa lên ngôi chúa, sinh được hai trai một gái. Con trai là Diễn, được tấn phong Phúc Quận công; thứ hai là Thuần, được phong Hiệp Quận công; con gái là Ngọc Tào. Bà vợ thứ hai là người họ Tống, quê ở huyện Tống Sơn (Thanh Hoá), là con gái Tống Phúc Khang; người cùng quê với nhà chúa, đă được phong tới Thiếu phó. Bà vợ họ Tống sinh được hai trai, Nguyễn Phúc Trăn lại là người thứ hai, sinh năm Kỷ Sửu (1649). Khi người con trai cả do bà vợ họ Chu sinh ra chết, Nguyễn Phúc Tần cho rằng Trăn tuy là con bà hai nhưng lớn tuổi hơn và hiền đức, làm phủ đệ tại dinh Tả thuỷ. Nguyễn Phúc Tần mất, Trăn đă 39 tuổi, được nối ngôi chúa, bấy giờ gọi là chúa Nghĩa.
 
Nguyễn Phúc Trăn nổi tiếng là người rộng răi, h́nh phạt và phú thuế đă nhẹ, trăm họ ai cũng vui mừng, quan lại cũ của tiên triều đều được trọng đăi.
 
Nguyễn Phúc Trăn bắt đầu quy định lại trang phục. 
 
Thời Chúa Nghĩa, quan hệ với người Chân Lạp vẫn rất tốt đẹp sau khi đă giết được kẻ phá đám là Hoàng Tiến (người Hoa). Chúa Nghĩa không thọ được lâu, sau 4 năm cầm quyền, bị bệnh rồi mất năm Tân Mùi (1691) lúc 43 tuổi.
 
 ♦ Nguyễn Phúc Chu (1691-1725): 
 
Nguyễn Phúc Chu là con cả của Nguyễn Phúc Trăn. Mẹ ông, người họ Tống quê ở huyện Tống Sơn (Thanh Hoá), con của Thiếu phó Quận công Tống Phúc Vinh. Bà được hầu Nguyễn Phúc Trăn từ khi chưa lên ngôi. Đến khi chồng được lên ngôi chúa, bà được thăng Cung tần. Sinh được con trai là Nguyễn Phúc Chu th́ càng được chúa yêu quư và bà phi của Nguyễn Phúc Trăn (không có con) càng v́ nể và đem Phúc Chu về nuôi.
 
Nguyễn Phúc Chu sinh năm Ất Măo (1675), được cho nuôi ăn học khá cẩn thận v́ thế văn hay chữ tốt, đủ tài lược văn vơ. Khi nối ngôi chúa mới 17 tuổi, lấy hiệu là Thiên Túng đạo nhân. Đây là lần đầu tiên chúa Nguyễn lấy hiệu mới mẻ, sùng đạo Phật. Quả vậy, mới lên chữ chính, chúa rất quan tâm chiêu hiền đăi sĩ, cầu lời nói thẳng, nạp lời can gián, bỏ xa hoa, bớt chi phí, nhẹ thuế má giao dịch, bớt việc h́nh ngục. Vừa lên ngôi, chúa cho xây dựng một loạt chùa miếu; mở hội lớn ở chùa Thiên Mụ, chùa núi Mỹ Am. Tự chúa cũng ăn chay ở vườn Côn Gia một tháng trời; chúa phát tiền gạo cho người nghèo thiếu. Đây là thời kỳ chiến tranh Trịnh-Nguyễn đă tạm dừng hơn 30 năm, bờ cơi yên ổn. Nguyễn Phúc Chu có điều kiện mở rộng đất đai xuống phía nam và đạt được những thành tựu đáng kể: đạt phủ B́nh Thuận năm Đinh Sửu (1697) gồm các đất Phan Rang, Phan Rí trở về Tây, chia làm hai huyện An Phúc và Hoà Đa bắt đầu đặt phủ Gia Định: chia đất Đông Phố, lấy xứ Đồng Nai làm huyện Phục Long, dựng dinh Trấn Biên (tức Biên Hoà), lấy xứ Sài G̣n làm huyện Tân B́nh, dựng Phiên Trấn, lập xă Minh Hương... Từ đó người Thanh đi lại buôn bán rất sầm uất.
 
Năm Mậu Tư (1708), chúa dùng Mạc Cửu làm tổng binh trấn Hà Tiên.
 
Ngoài tư cách là một vị chúa có học vấn cao thể hiện qua chính sự khá toàn diện và cởi mở. Nguyễn Phúc Chu c̣n là một người làm rất nhiều thơ. Ông có hàng chục bài thơ khóc vợ, t́nh ư rất tha thiết.
 
Năm Ất Tỵ (1725) Nguyễn Phúc Chu mất, ở ngôi 34 năm, thọ 51 tuổi. Phúc Chu là chúa đông con nhất: 146 người, cả trai cả gái.
 
 ♦ Nguyễn Phúc Chú (1725-1738): 
 
Chắc là Nguyễn Phúc Chu có rất nhiều vợ, nhưng chỉ thấy sử sách chép chuyện hai bà: bà họ Hồ và bà họ Nguyễn.
 
Nguyễn Phúc Chú sinh năm Bính Tư (1696), là con bà cả. Lúc đầu Phúc Chú được trao chức Cai cơ Đỉnh thịnh hầu. Năm Ất Mùi (1715), thăng làm chưởng cơ, làm phủ đệ tại cơ Tả Sùng. Đến khi chúa Phúc Chu mất, ông được nối ngôi (năm 1725) khi 30 tuổi, lấy hiệu là Vân Truyền đạo nhân. Nguyễn Phúc Chú ở ngôi được 13 năm th́ mất. Trong thời kỳ cầm quyền chúa không có ǵ nổi bật ngoài hai việc: 
 
Năm Quư Sửu (1733), chúa cho đặt đồng hồ nhập của Tây phương ở các dinh và các đồn tàu dọc biển. Sau đó có Nguyễn Văn Tú đă chế tạo được. 
 
Năm Bính Th́n (1736), Mạc Cửu mất, con trai là Mạc Thiên Tứ được chúa Nguyễn cho làm Đô đốc trấn Hà Tiên. Tứ có tầm mắt nh́n xa biết rộng: cho miễn thuế, sai đóng ba chiếc thuyền Long bài, xuất dương t́m mua các hàng quư hiếm dâng nộp, mở cục đúc tiền để tiện việc trao đổi. Thiên Thứ chia đặt nha thuộc, kén bổ quân ngũ, đắp thành luỹ, mở phố chợ, khách buôn các nước đến họp đông đúc. Ông lại c̣n vời văn nhân thi sĩ, mở Chiêu An các, ngày ngày cùng nhau giảng bàn và xướng hoạ, để lại 10 bài thơ vịnh cảnh Hà Tiên (Hà Tiên thập vịnh). Sau hợp lại thành tập 320 bài thơ của 25 tác giả Trung Quốc và 6 tác giả Việt Nam.
 
Năm Mậu Ngọ (1738) chúa Nguyễn Phúc Chú mất, thọ 43 tuổi, ở ngôi 13 năm. 
 
 ♦ Nguyễn Phúc Khoát (1738-1765): 
 
Nguyễn Phúc Khoát là con Nguyễn Phúc Chú, sinh năm Giáp Ngọ (1714). Mẹ là người họ Trương ở huyện Tống Sơn, Thanh Hoá, con Trưởng cơ Trương Phúc Phan. Vào hầu Phúc Chú từ khi c̣n chưa lên ngôi, được phong Hữu cung tần. Tính bà e lệ cẩn thận, dạy bảo nội chức có phong độ hậu phi thời xưa. Bà sinh được 2 người con trai rồi mất năm bà mới 22 tuổi.
 
Nguyễn Phúc Khoát là con trưởng, được phong làm chưởng dinh Dinh tiền sứ chính hầu, làm phủ đệ tại Cơ Tiến Dực ở Dương Xuân. Phúc Chú mất, Khoát được lên ngôi khi 25 tuổi, lấy hiệu là Từ Tế đạo nhân.
 
Nguyễn Phúc Khoát bắt đầu xưng vương. Năm Giáp Tư (1774), đúc ấn Quốc vương, sau đó, ngày Kỷ Mùi, lên ngôi vua ở phủ chính Phú Xuân, ban chiếu bố cáo thiên hạ. Bộ máy chính quyền từ trên xuống cơ sở, các chức danh, tên gọi cũng thay đổi. Tuy nhiên vua Nguyễn vẫn dùng niên hiệu vua Lê trong các văn bản hành chính. Đối với các thuộc Cao Miên, Ai Lao, Xiêm... lại xưng là Thiên vương. Tôn hiệu các đời trước cũng được nâng lên phù hợp với cương vị mới của Quốc vương. Đối với anh em họ hàng gần th́ phong tước Quận công. Hoàng tử, cứ theo thứ tự mà xưng. 
 
Cùng với thay đổi trên, triều phục bách quan cũng thay đổi. Các đơn vị hành chính địa phương cũng một phen thay đổi.
 
Từ năm Giáp Tuất (1754) để xứng đáng là kinh đô của Nguyễn vương, Phú Xuân được xây dựng thêm hàng loạt điện đài mới theo quy mô đế vương. Rơ ràng dưới thời chúa Nguyễn Phúc Khoát, kinh đô Phú Xuân trở thành nơi hội lớn, văn vật thanh dung lừng lẫy, đời trước chưa từng có. 
 
Xây dựng xong kinh đô Chúa sai nhiều văn quan đề vịnh phong cảnh cố đô. Phú Xuân trở thành một thành phố nên thơ từ ngày ấy. Chúa Nguyễn đă đón tiếp các quốc vương láng giềng ở Đất Phú Xuân.
 
Nguyễn Phúc Khoát đă tự xưng vương, ở ngôi được 27 năm. Năm Ất Dậu (1765), quốc vương băng, thọ 52 tuổi. Con trai thứ 16 lên nối ngôi.
 
 ♦ Nguyễn Phúc Thuần (1765-1777): 
 
Nguyễn Phúc Thuần c̣n có tên huư là Hân, sinh năm Giáp Tuất (1754), con thứ 16 của Phúc Khoát. Mẹ Phúc Thuần người họ Nguyễn, sinh được hai trai, Phúc Thuần là thứ hai. Năm Giáp Ngọ (1774) bà đi tu ở chùa Phúc Thành, sau đó mất (1804) được truy tôn là Tuệ Tĩnh thánh mẫu Nguyên sư, hiệu là Thiên Long giáo chủ.
 
Chúa Phúc Khoát lúc đầu lập Hoàng tử thứ 9 tên là Hiệu làm Thái Hoàng tử. Hiệu mất sớm con trai của Hiệu là Hoàng Tôn Dương c̣n thơ ấu mà Hoàng tử cả là Chương cũng đă mất. Hoàng tử thứ hai là Nguyễn Phúc Luân cũng rất khôi ngô, theo thứ tự sẽ phải lập Hoàng Tôn Dương hoặc Nguyễn Phúc Luân lên ngôi. Phúc Khoát có ư lập Phúc Luân, nên đă trao Luân cho một thày học nổi tiếng là Trương Văn Hạnh dạy bảo những điều cần thiết cho một người gánh vác ngôi vua. Phúc Khoát mất, t́nh h́nh lại thay đổi. Quyền thần Trương Phúc Loan không muốn lập Nguyễn Phúc Luân và Luân đă lớn tuổi, khó bề lộng hành. Thế là Phúc Loan chọn Phúc Thuần con thứ 16 của Phúc Khoát, mới 12 tuổi lên ngôi.
 
Phúc Luân không được lập mà bị bắt giam. Nội hữu Trương Văn Hạnh-thầy dạy Phúc Luân cũng bị bắt giết. Phúc Luân không được nối ngôi, lo buồn cho tính mạng mà chết khi tuổi mới 33. Đến năm Minh Mệnh thứ hai (1821) Luân được truy tôn là Hưng tổ.
 
Trải 9 đời chúa, đến đây nhà chúa đă bị nạn quyền thần lấn ướt Phúc Thuần nhỏ tuổi, lại không phải là người được sắp sẵn để lên ngôi, nay thật bỡ ngỡ trên ngai vàng. Mọi quyền hành đều do Trương Phúc Loan sắp đặt. Loan tự nhận là Quốc Phó, giữ bộ Hộ quản cơ Trung thượng kiêm Tầu vụ. Thực tế Trương Phúc Loan thâu tóm vào tay từ chính sự đến kinh tế. Các nguồn lợi chủ yếu của vương quốc Đàng Trong đều rơi vào tay Loan. Thuế sản vật các mỏ vàng Thu Bồn, Đồng Hương, Trà Sơn, Trà Vân... hàng năm Trương chỉ nộp vào ngân khố 1-2 phân mười số thu được. Các thứ lâm sản thuỷ sản đều chảy vào nhà Trương. Ngày nắng Loan cho đem phơi của cải quư báu làm sáng rực cả một góc trời! Cả nhà họ Trương chia nhau nắm hết mọi chức vụ chủ chốt. Quyền và tiền họ Trương lấn át cả trong triều ngoài trấn. Có quyền có tiền, Loan mặc sức hoành hành ngang ngược - người bấy giờ gọi là Trương Tần Cối.
 
Giữa lúc đó, Lại bộ thượng thư Nguyễn Cư Trinh, người có uy tín, tài năng trụ cột của triều Nguyễn qua đời (tháng 5 năm Đinh Hợi 1767). Thế là họ Trương không c̣n ai ngăn cản nữa, càng ra sức làm nhiều việc càn rỡ, chẳng c̣n kiêng nể ǵ: bán quan buôn tước, ăn tiền tha tội, h́nh phạt phiền nhiễu, thuế má nặng nề, thần dân cực khổ và căm giận. Những người có tâm huyết và tài năng như Tôn Thất Dục, tinh thông kinh sử, thuật số, âm nhạc, bị Loan t́m cách hăm hại. Tài chính kiệt quệ đến nỗi dật sĩ Thuận Hoá là Ngô Thế Lân phải kêu lên triều. Nhưng mọi cố gắng của họ Ngô không được hồi âm.
 
Giữa lúc đó, anh em Tây Sơn do Nguyễn Nhạc cầm đầu dấy nghĩa ở Quy Nhơn, thanh thế ngày càng lừng lẫy v́ được dân chúng đồng t́nh ủng hộ. Thêm vào đó, tháng 5 năm Giáp Ngọ (1774) Trịnh lại đem đại quân vào đánh Nguyễn. Cả Tây Sơn lẫn Trịnh đều khẩu hiệu khử quyền thần Trương Phúc Loan và tôn phó Hoàng Tôn Dương. Chiến tranh loạn lạc lại nổ ra, đất Thuận Hoá trước đó trù phú là thế mà nay trăm bề xơ xác la liệt, "mỗi lẻ gạo trị giá một tiền, ngoài đường xác đói, người nhà có khi ăn thịt nhau". 
 
Trước t́nh cảnh đó, không c̣n cách nào khác, tôn thất nhà Nguyễn cùng nhau hợp sức bắt trói Trương Phúc Loan nộp cho quân Trịnh. Tháng 12 năm 1774, quân Trịnh chiếm được Phú Xuân và đặt quan cai trị Thuận Hoá. Trong số quan lại nhà Trịnh được cử vào Thuận Hoá có Lê Quư Đôn (1776).
 
Tây Sơn t́m cách tạm hoà với Trịnh để yên mặt Bắc và có điều kiện đánh Nguyễn ở phía Nam. Đại quân Tây Sơn cả thuỷ lẫn bộ đánh vào Sài G̣n. Chúa Nguyễn chạy về Định Tường rồi lại sang Long Xuyên. Tháng 9 năm Đinh Dậu (1777) quân Tây Sơn do Nguyễn Huệ thống lĩnh đánh chiếm Long Xuyên, chúa Nguyễn chết trận. Như vậy Nguyễn Phúc Thuần ở ngôi chúa 12 năm, khi chết mới 24 tuổi, không có con nối.
 
 ♦ Nguyễn Phúc Ánh (1780-1802): 
 
Nguyễn Phúc Ánh có tên huư là Chủng và Noăn, sinh năm Nhâm Ngọ (1762), con thứ ba của Nguyễn Phúc Luân. Mẹ Nguyễn Ánh là con gái Diễn Quốc Công Nguyễn Phúc Trung (có lẽ Phúc Trung được ban quốc tính), người làng Minh Linh, phủ Thừa Thiên. Khi Nguyễn Phúc Luân bị quyền thần Trương Phúc Loan phế truất rồi bắt giam năm Ất Dậu (1765), Nguyễn Ánh c̣n nhỏ (4 tuổi) đang ở nhà riêng. Năm Quư Tỵ (1773), Tây Sơn khởi nghĩa, Nguyễn Phúc Ánh 13 tuổi, theo chúa Phúc Thuần vào Quảng Nam. Mùa thu năm Đinh Dậu (1777), Nguyễn Phúc Thuần tử trận, Nguyễn Phúc Ánh một ḿnh chạy thoát ra đảo Thổ Chu. Một tháng sau, Phúc Ánh tập hợp được một đội nghĩa dũng, binh sĩ mặc toàn đồ tang, quyết tử đánh chiếm lại Sài G̣n. Giúp Nguyễn Phúc Ánh, lúc đó mới 17 tuổi, có Đỗ Thanh Nhân và một số tướng lĩnh khác, Ánh ra sức xây dựng lực lượng, đắp luỹ đất ở phía Tây sông Bến Nghé, đóng cọc gỗ ở các cửa cảng để đề pḥng ngừa tấn công của Tây Sơn, Ánh đă có 50 chiến thuyền.
 
Năm Canh Tư (1780) Phúc Ánh chính thức lên ngôi vương ở Sài G̣n, dùng ấn "Đại Việt quốc Nguyễn chúa vĩnh trấn chi bảo" làm ấn truyền quốc, niên hiệu th́ vẫn theo chính sóc nhà Lê.
 
Tháng 3 năm Nhâm Dần (1782), Nhạc và Huệ kéo quân vào đánh Sài G̣n. Phúc Ánh chống lại ở cửa biển nhưng yếu sức đành thua trận. Phía Phúc Ánh lần này có cả sĩ quan Pháp tử trận. Ánh phải cưỡi thuyền nhỏ chạy ra biển, đến trú ở đảo Phú Quốc. Đại quân của Tây Sơn rút về Quy Nhơn, tháng 8 năm Nhâm Dần (1782), Ánh lại thu thập tàn quân trở lại Gia Định.
 
Tháng 2 năm Quư Măo (1783) Nguyễn Huệ và Nguyễn Lữ lại kéo vào đánh cửa biển Cần Giờ, quân Nguyễn tan tác. Tôn Thất Mân, Dương Công Trừng bị bắt hoặc chết, Chu Văn Tiếp bỏ chạy. Nguyễn Ánh cùng với 5,6 người tuỳ tùng, 100 lính chạy về Ba Giồng. 
 
Tháng 4 năm đó, bị Nguyễn Huệ đuổi gấp, Ánh phải cưỡi trâu lội qua sông thoát thân rồi đem mẹ, vợ con ra Phú Quốc. Thuỷ quân Tây Sơn truy đuổi đến tận đảo. T́nh thế cực kỳ nguy khốn song nhờ cái cớ Lê Phúc Điển mặc áo ngự đứng đầu thuyền giả làm Nguyễn Vương đánh lạc hướng Tây Sơn, Nguyễn Ánh chạy ra đảo Côn Lôn. Pḥ mă Trương Văn Đa liền kéo thuỷ quân Tây Sơn ra vây chặt 3 ṿng quanh đảo, chúa Nguyễn như "cá nằm trên thớt", bỗng một trận băo lớn làm thiệt hại nặng thuỷ quân Tây Sơn, Nguyễn Ánh thoát được đến ḥn Cổ Cốt, sau lại về Phú Quốc. Thất bại liên tiếp, Nguyễn Ánh phải trao con là Hoàng tử Cảnh mới 4 tuổi cho Bá Đa Lộc làm con tin sang cầu viện người Pháp. Rồi Nguyễn Ánh từ biệt mẹ và vợ con đem quân chạy ra ngoài cơi. Tháng 2 năm Giáp Th́n (1784), Nguyễn Ánh đem theo cả mẹ và vợ con chạy sang Xiêm nương thân và cầu viện. Mùa hè năm đó, Nguyễn Ánh dẫn quân Xiêm gồm 2 vạn thuỷ quân và 300 chiến thuyền kéo về Sài G̣n, Gia Định. Nhờ có viện binh, Nguyễn Ánh chiếm lại Ba Xắc, Trà Ôn, Mân Thít, Sa Đéc...
 
Tháng 12 năm Giáp Th́n (1784), Nguyễn Nhạc được tin cấp báo, tức th́ sai Nguyễn Huệ đem quân vào cứu Sài G̣n. Quân Tây Sơn mai phục ở Rạch Gầm và Xoài Mút (tỉnh Định Tường), rồi dụ quân Xiêm vào trận. Quân Xiêm đại bại, Chiêu Tăng, Chiêu Sương cùng vài ngh́n sĩ tốt theo đường núi rút chạy về nước. Nguyễn Ánh đi Trấn Giang rồi sang Xiêm, xin trú ở Long Kỳ (người Xiêm gọi là Đồng Khoai, ở ngoại thành Vọng Các) sai người đón mẹ và vợ con đến. Quân Nguyễn nhờ đất Xiêm mà sản xuất, trồng cấy đóng chiến thuyền, tích trữ lương thực, thu nạp quân sĩ, đợi thời cơ. Lưu trú trên đất Xiêm, Nguyễn Ánh đă giúp vua Xiêm đánh bại Diến Điện... Vua Xiêm thán phục, đem vàng lụa đến tạ ơn và hứa giúp Nguyễn Ánh lấy lại Gia Định. Sau trận đánh Diến Điện, Nguyễn Ánh c̣n giúp vua Xiêm đánh lại quân Chà Và. 
 
Năm Đinh Mùi (1787), lực lượng hùng mạnh của Nguyễn Ánh lại được Bồ Đào Nha giúp đỡ, vua Xiêm tỏ ra không bằng ḷng. Biết vua Xiêm không giúp ǵ hơn, Nguyễn Ánh lặng lẽ rút quân về nước, dùng kế ky gián giết Phạm Văn Tham; đuổi Nguyễn Lữ chiếm lại Sài G̣n-Gia Định tháng 8 năm Mậu Thân (1788). Thế là trong khi Nguyễn Nhạc bất lực chỉ biết bo bo giữ Quy Nhơn, Nguyễn Huệ phải lo đối phó với t́nh h́nh Bắc Hà, đánh đuổi hơn 20 vạn quân Thanh, Nguyễn Ánh ở Gia Định nắm thời cơ chuẩn bị, củng cố lực lượng. Nguyễn Ánh c̣n sai sứ thần Phan Văn Trọng và Lâm Đồ mang thư và 50 vạn quân lương sang giúp nhà Thanh. Năm Kỷ Dậu (1789), Hoàng tử Cảnh từ phương Tây về, Cảnh đi cùng Bá Đa Lộc sang Pháp cầu viện, lênh đênh trên biển và hải cảng các nước, hai năm sau mới đến Paris. Hoàng đế Pháp tiếp đăi theo vương lễ song chưa giúp ǵ được. V́ triều đ́nh c̣n gặp khó khăn. Cảnh về Gia Định vừa đúng 4 năm đi xa. Hai sĩ quan Pháp ở lại phụng sự chúa, được Ánh đặt tên là Thắng và Chấn, cấp một ngh́n quan tiền trao cho chức Cai đội.
 
Trên lănh địa của ḿnh, Nguyễn Ánh đă hết sức cố gắng nhanh chóng tăng cường binh lực và mọi mặt. Một loạt chính sách được ban hành: đạt quan điền tuấn chuyên lo việc làm ruộng, thi hành phép ngư binh ư nông, trai tráng khi cần là lính chiến, hết trận về làm ruộng, định lệ khuyến nông, đặt đồn điền... Nguyễn Ánh đặc biệt quan tâm đến phong thưởng và đăi ngộ tướng sĩ trận vong hoặc có công lao. Nguyễn Ánh đặt quan hệ tốt với các nước láng giềng, nhất là binh sĩ Xiêm nhằm tăng cường thanh thế. Đối với Châu Âu đang giúp rập, Ánh hết sức ưu đăi. Tháng 9 năm Kỷ Mùi (1799) Bá Đa Lộc, giáo sĩ người Pháp, ân nhân của Nguyễn Ánh qua đời, Ánh cho cử hành tang lễ cực kỳ trọng thể. Thi hài được ướp thơm, quan tài bằng gỗ tứ thiết, chuyển từ Diên Khánh về Gia Định trong ṿng hai tháng, làm đúng quốc tang, truy tôn là Thái phó Bi Nhu Quận công. 
 
Nguyễn Ánh vừa ra sức củng cố vừa phát triển lực lượng, tính từ năm 1792, Nguyễn Ánh bắt đầu mở các đợt tấn công ra Quy Nhơn theo chiến thuật "tằm ăn lá dâu" và theo từng mùa gió nồm: "Gặp nồm thuận th́ tiến, văn th́ về; khi phát th́ quân lính đủ, về th́ tản ra đồng ruộng". Sau cái chết của Quang Trung, Nguyễn Ánh càng ráo riết thực thi chiến thuật trên. Năm Kỷ Mùi (1799), Nguyễn Ánh chiếm được Quy Nhơn, đổi thành B́nh Định. Từ đó Nguyễn Ánh bắt đầu giành được thế áp đảo khiến Nguyễn Quang Toản non yếu, nội bộ lục đục không sao chống nổi. Sau khi Nguyễn Quang Toản mất vào tháng 7 năm Nhâm Tuất (1802), Nguyễn Ánh lên ngôi hoàng đế.

 

Nguồn: TCDL

 

Thông tin khác
    Khái quát chung
    Khí Hậu
    Địa h́nh
    Tài nguyên
  
Tour khởi hành từ Hà nội

Tour Tham quan Hà nội

Tour Hạ long - Cát Bà

Tour Sapa - Bắc Hà

Thăm chiến trường xưa

Di sản Miền Trung

Nha Trang - Đà Lạt - Mũi Né

Hành tŕnh Xuyên Việt

 
 
Tour khởi hành Miền Trung

Tour khởi hành từ Huế

Tour khởi hành từ Đà nẵng

Tour khởi hành từ Nha Trang

Tour khởi hành từ Đà lạt

 
Tour khởi hành từ Sài g̣n

Tour Tham quan Sài g̣n

Soạn: AM 882601 gửi đến 996 để nhận ảnh này

Tour Du lịch Mekong

Nha Trang - Đà lạt - Mũi Né

Hành tŕnh di sản Miền Trung

 
 
 
 
 
 
   © Copyright Công ty Cổ phần Tập đoàn NTT    
Cruise Halong | Vietnam Cheap Tours | Viajar a Vietnam | Du lịch Cao Cấp | Tour Du lịch | Du lịch Việt Nam | Vietnam Viajes | Vietnam Hotels | Vé tàu hỏa
Vé tàu Sapa | Du lịch Tây Nguyên | Dịch Vụ Cho thuê xe | Hanoi Travel | Ohayo Tours