|
Khu di
tích danh thắng Côn Sơn:
Khu di tích ở xă Cộng Ḥa, huyện
Chí Linh, nằm giữa hai dăy núi
Phượng Hoàng - Kỳ Lân, cách Hà
Nội khoảng 70 km (43.8 miles).
Khu di tích, danh thắng này gồm
có núi non, chùa, tháp, rừng
thông, khe suối và các di tích
nổi tiếng gắn liền với cuộc đời
của nhiều danh nhân trong lịch
sử. Ngay từ thời Trần, chùa Côn
Sơn là một trong ba trung tâm
của thiền phái Trúc Lâm (Côn Sơn
- Yên Tử - Quỳnh Lâm). Mảnh đất
này đă gắn bó với tên tuổi và sự
nghiệp của nhiều danh nhân đất
Việt như Trần Nguyên Đán, Huyền
Quang và
đặc
biệt là anh hùng dân tộc danh
nhân văn hóa thế giới Nguyễn
Trăi. Ngày nay, Côn Sơn c̣n lưu
trữ được những dấu tích văn hóa
thời Trần và các giai đoạn lịch
sử kế tiếp, Tiêu biểu:
|
|
Chùa Côn
Sơn: Chùa có tên chữ là
Tư Phúc tự, hay c̣n
gọi
là chùa Hun, tọa lạc dưới chân
núi Côn Sơn, có từ trước đời
Trần. Vào đời Lê, chùa được
trùng tu và mở rộng rất nguy nga
đồ sộ. Trải qua tác động về lịch
sử và thời gian, Chùa Côn Sơn
ngày nay chỉ c̣n là một ngôi
chùa nhỏ ẩn ḿnh dưới tán lá
xanh của các cây cổ thụ. Chùa
được kiến trúc theo kiểu chữ
công (|) gồm Tiền đường, Thiêu
hương, Thượng điện. Thượng điện
thờ Phật, có những tượng Phật
thời nhà Lê cao 3 m (9 ft). Phía
sau chùa là nhà Tổ, có tượng
Trúc Lâm Tam Tổ (Trần Nhân Tông
- Pháp Loa - Huyền Quang), tượng
ông bà Trần Nguyên Đán, hai pho
tượng Nguyễn Trăi và Nguyễn Thị
Lộ. Sân chùa có cây đại thụ 600
tuổi, 4 nhà bia, đặc biệt là bia
"Thanh Hư động" được tạo từ thời
Long Khánh (1373 - 1377) với nét
chữ của vua Trần Duệ Tông và bia
h́nh lục lăng, "Côn Sơn thiện từ
bi phúc tự".
|
|
Giếng Ngọc:
Giếng nằm ở sườn núi Kỳ Lân, bên
phải là lối lên Bàn Cờ Tiên,
phía dưới chân Đăng Minh Bảo
Tháp. Tương truyền đây là giếng
nước do Thiền sư Huyền Quang
được thần linh báo mộng ban cho
chùa nguồn nước quí. Nước giếng
trong vắt, xanh mát quanh năm,
uống vào thấy khoan khoái dễ
chịu. Từ đó có tên là Giếng Ngọc
và nước ở giếng được các sư dùng
làm nước cúng lễ của chùa.
|
|
Bàn Cờ Tiên: Từ
chùa Côn Sơn leo khoảng 600 bậc
đá là
đến
đỉnh núi Côn Sơn cao 200 m (600
ft). Đỉnh Côn Sơn là một khu đất
bằng phẳng, tại đây có một phiến
đá khá rộng, tục gọi là Bàn Cờ
Tiên. Hiện nay Bàn Cờ Tiên có
dựng nhà bia theo kiểu Vọng Lâu
đ́nh, hai tầng cổ các tám mái.
Đứng từ đây, du khách có thể
nh́n bao quát cả một vùng rộng
lớn.
|
|
Thạch Bàn: Bên
suối Côn Sơn có một phiến đá gọi
là Thạch Bàn, từ chân núi đi
theo lối ṃn có kê
đá
xuống phía chân núi có một tảng
đá lớn, mặt phẳng và nhẵn nằm kề
ven suối gọi là Thạch Bàn lớn.
Tương truyền khi xưa Nguyễn Trăi
lấy làm "chiếu thảm" nghỉ ngơi,
ngắm cảnh, làm thơ và suy tư
việc nước.
|
|
Đền Kiếp Bạc: Đền
ở xă Hưng Đạo, huyện Chí Linh,
cách Hà Nội 80 km (50 miles) và
cách Côn Sơn 5 km (3 miles).
Kiếp Bạc là tên ghép của hai
vùng Vạn Yên (làng Kiếp) và Dược
Sơn (làng Bạc). Nơi đây là thung
lũng trù phú, xung quanh có dăy
núi Rồng bao bọc tạo cho Kiếp
Bạc có một vẻ đẹp vừa kín đáo,
vừa thơ mộng.
Vào thế kỷ 13, đây là nơi đóng
quân và là phủ đệ của Trần Hưng
Đạo, người anh hùng dân tộc,
người chỉ huy quân sự tối cao
trong cuộc kháng chiến chống
quân xâm lược Nguyên Mông.
Đền thờ ông được dựng vào đầu
thế kỷ 14, trên một khu đất ở
trung tâm thung lũng Kiếp Bạc.
Trong đền hiện c̣n 7 pho tượng
bằng đồng: tượng Trần Hưng Đạo,
phu nhân, hai con gái, Phạm Ngũ
Lăo, Nam Tào, Bắc Đẩu và 4 bài
vị thờ con trai. Hàng năm, hội
đền được tổ chức vào ngày mất
của Trần Hưng Đạo (ngày 20 tháng
8 âm lịch).
|
|
Chùa Kính Chủ:
Chùa tọa lạc ở xă An Sinh, huyện
Kim Môn. Chùa được dựng từ thời
Lư (thế kỷ 12) và
được
trùng tu nhiều lần. Đặc biệt là
chùa được tạo từ cảnh quan tự
nhiên của động Kính Chủ. Chùa
thờ thiền sư Minh Không, Lư Thần
Tông, Huyền Quang. Các tượng
trong chùa được tạc bằng đá.
|
|
Chùa Giám: Chùa
toạ lạc ở xă Cẩm Sơn, huyện Cẩm
Giàng. Chùa được dựng vào thế kỷ
17 thời Hậu Lê. Trước đây, chùa
ở ngoài đ ê
sông Thái B́nh. Sau năm 1971,
chùa được dời vào địa điểm ngày
nay. Chùa là nơi danh y Tuệ Tĩnh
sống, học tập và nghiên cứu về y
dược nhiều năm. Chùa mang kiến
trúc tiêu biểu của thế kỷ 17 -
18, đặc biệt là ṭa Cửu Phẩm
Liên Hoa đồ sộ, điêu khắc tinh
tế.
|
|
Đ́nh Mộ Trạch:
Đ́nh xây dựng năm 1658 tại xă
Tân Hồng, huyện B́nh Giang, thờ
Thành Hoàng làng. Mộ Trạch là
làng văn hiến nổi tiếng về
truyền thống hiếu học và thành
đạt của xứ Đông xưa. Làng có 36
tiến sĩ. Di tích lịch sử Mộ
Trạch bao gồm: đ́nh làng, chùa
Diên Phúc, miếu thờ Thành Hoàng,
giếng thờ, nhà thờ Trung Viễn,
quán Linh Ứng.
|
|
Đền Cao: Đền Cao
nằm ở trên một sườn đồi thuộc xă
An Lạc, huyện Chí Linh, cách Hà
Nội 80 km (50 miles). Ngôi đền
là
điểm
văn hóa, di tích lịch sử, danh
thắng nổi tiếng của nước ta. Đền
thờ Vương Đức Minh - Thiên Bồng
Đại Tướng Quân Đại Vương. Đền
xây dựng theo kiến trúc chữ
"đinh" nằm trên ngọn núi Thiên
Bồng. Chung quang đền là rừng
lim già.
Khi leo hết hơn 100 bậc gạch rêu
phong, du khách sẽ được thấy 99
con voi bằng đá. Theo truyền
thuyết, đây chính là những con
voi vừa thắng trận trở về, chúng
tung ṿi gầm vang chen nhau
xuống ḍng Nguyệt Giang mềm mại
để uống nước. Ở gian chính điện
có bức đại tự viết theo lối đá
có thảo 4 chữ lớn "Thanh Thọ Vô
Cương", phía bên tả "Cao Sơn
Ngưỡng Tử" và bên hữu "Cao Cao
Tại Thượng". Trước cửa đền, dưới
tán lim cổ thụ là hai hàng voi
đá, ngựa đá. Ngoài đền Cao c̣n
có ngôi đền nữa với kiểu kiến
trúc độc đáo. Đền Cao là
điểm
hẹn của những người biết tôn
trọng lịch sử văn hóa dân tộc.
|
|
Văn Miếu Mao Điền:
Mao Điền là trung tâm văn hóa,
ngoại giao, chính trị, quân sự
và kinh tế của tỉnh Hải Dương
xưa. Tháp được xây dựng năm
1807. Năm Minh Mạng thứ tư
(1823), Văn Miếu đă được đại tu
và
đă
trở thành một công tŕnh văn hóa
to và
đồ
sộ trên g̣ đất cao rộng ở xă cẩm
Điền, huyện Cẩm Giàng.
|
|
Chùa Làng Hà Lôi:
Làng Hà Lôi ở gần Đông Triều, có
cảnh chùa rất đẹp do nhà sư
Nguyễn Minh Không xây dưới núi
Quỳnh Lâm, từ đời nhà Trần.
Tượng trong chùa đều đúc bằng
đồng.
|
|
Lăng Vua Nhà Trần:
Nhiều lăng vua nhà Trần xây ở
Hải Dương, phía Bắc Đông Triều:
Thái Lăng của vua Trần Anh Tông,
Mục Lăng của vua Trần Minh Tông,
Khu Lăng của vua Trần Dụ Tông,
Nguyên Lăng của vua Trần Nghệ
Tông, An Sinh Lăng của vua Trần
Thuận Tông.
|
|
Một số di tích lịch sử khác
như:
Làng Linh Giang có đền thờ ông
Mạc Đỉnh Chi (người làng Lũng
Động, huyện Nam Sách), danh sĩ,
danh thần dưới các triều vua
Trần Anh Tông, Trần Minh Tông và
Trần Hiển Tông, người đă dùng
văn chương áp đảo cả triều thần
Mông Cổ. Làng Chi Điền, huyện
Nam Sách có đền thờ Bố Cái Đại
Vương Phùng Hưng. Huyện Thanh Hà,
cách tỉnh lỵ Hải Dương 13 km (8
miles) về Đông-Nam, có chùa Minh
Khánh thờ vua Trần Nhân Tông.
Làng Tràng Liệt có đền thờ bà
Đoàn Thị Tú, người phụ nữ nổi
dậy chống quân cướp của "quận
He" Nguyễn Hữu Cầu và
được
vua Lê ban tước hiệu Quận phu
nhân. Làng Phù Vệ có chùa thờ
Đại sư Pháp Loa Đồng Kiên Cương
(người huyện Chí Linh), danh
tăng đời nhà Trần, đệ tử đức
Điều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân
Tông và là
đệ
nhị tổ của gịng Thiền Trúc Lâm.
Làng Trung Am có đền thờ một vị
tướng của Hai Bà Trưng tử trận ở
Lạng Sơn. Làng Dưỡng Mông có
cảnh chùa xây từ đời nhà Trần
(1332), thờ Đại sư Vương Huệ
danh tiếng. Làng Liễu Tràng có
đền thờ ông Lương Nhữ Hộc (người
làng Thanh Liễu, huyện Gia Lộc),
một Trạng nguyên hay chữ và là
ông Tổ nghề khắc mộc bản in sách
thời xưa.
Huyện Cẩm Giàng xây chùa Giám,
có tháp gỗ "Cửu Phẩm Liên Hoa",
một di tích về mỹ thuật tôn
giáo. Làng Trúc Lâm thờ ông
Nguyễn Thời Trung, ông Tổ của
ngành thuộc da.
Vùng Đông Triều đẹp nhất tỉnh
Hải Dương, có địa danh Phả Lại
là nơi dân ta giao chiến nhiều
trận với quân Mông Cổ, và núi
Mật Sơn rất hùng vĩ. Đông Triều
có rặng Yên Tử chạy lan qua tỉnh
Quảng Yên, có khá nhiều chùa cổ
như: Chùa Bảo Đài, trên núi Bảo
Đài; Trúc Lâm Đệ Nhất Tổ (tức
vua Trần Nhân Tông) từng ở đây.
Chùa Bảo Sát, cũng dựng từ đời
nhà Trần và thờ Pháp Loa thiền
sư, là một trong những danh
thắng của vùng núi Yên Tử, ở gần
chùa Thiên Trúc (tức chùa Đồng);
đặc biệt mái chùa Bảo Sát lợp
toàn bằng kẽm. Chùa Hộ Thiên xây
đời Trần, thuộc phái Thiền Trúc
Lâm.
Làng Phù Ủng c̣n có chùa Bảo
Sơn, dựng từ đời nhà Trần. Đất
Hải Dương là quê quán của nhiều
người tài giỏi, góp công rất lớn
trong việc cứu nước và xây dựng
đất nước qua nhiều lănh vực.
Huyện Nam Sách, làng Thanh Khê:
H́nh bộ Thượng thư Nguyễn Thuyên
(Hàn Thuyên) triều Trần Thái
Tông, người đầu tiên gây phong
trào thơ Nôm, tác giả "Văn Tế Cá
Sấu", "Phi Sa Tập"...
Huyện Chí Linh: Danh tướng Phạm
Cự Lượng, giúp vua Lê Đại Hành
đánh thắng quân Tống. Làng Chi
Ngại: Nguyễn Phi Khanh là danh
sĩ đời vua Trần Duệ Tông, tác
giả Nhị Khê tập. Con ông là anh
hùng Nguyễn Trăi, người có công
rất lớn trong cuộc kháng chiến
đánh đuổi giặc Minh, ông c̣n là
một nhà văn học, chính trị, địa
dư, giáo dục nổi tiếng, các tác
phẩm điển h́nh của ông là B́nh
Ngô Đại Cáo, Quân Trung Từ Mệnh
Tập, Dư Địa Chí, Ngọc Đường Di
Tập, Gia Tự Đại Lễ, Thạch Bàn
Đồ, Gia Huấn Ca và nhiều bài thơ
giá trị. Xă Lũng Động: Mạc Hiển
Tích, giỏi chính trị và văn thơ
đời vua Lư Nhân Tông. Xă Lục
Dương: Dương Tồn, danh thần đời
Hậu Lê, giỏi binh pháp, tinh
thông địa lư, nổi tiếng về thơ
phú. Làng Thượng Đáp: Ngô Hoán,
tài kiêm văn vơ, thi nhân trong
hội Tao Đàn của vua Lê Thánh
Tông. Xă Lạc Sơn: Nguyễn Thọ
Xuân, danh sĩ thời Lê mạt, tác
giả Duy Nghĩa Lư Phong Niên
phú...
Cùng huyện có xă Chi Ngại, núi
Côn Sơn, nơi tri sĩ của Trần
Nguyên Đán (đại thần đời Trần
mạt, ông ngoại của Nguyễn Trăi)
và anh hùng Nguyễn Trăi. Xă Kiệt
Đặc, gần núi Phượng Hoàng là chỗ
ở của hiền thần Chu An (tước Văn
Trinh Công nên ta thường tôn là
Chu Văn An). Sau vụ ông dâng sớ
xin chém bảy nịnh thần và bị vua
Trần Minh Tông bác bỏ, ông về mở
trường dạy học và sống đạm bạc ở
nơi này đến khi mất nên được dân
chúng coi như một bậc thầy tiêu
biểu cho Nho học.
Huyện B́nh Giang, có làng Mộ
Trạch phát sinh nhiều người tài:
Vũ Quỳnh, sử gia triều Lê Thánh
Tông, soạn bộ sử giá trị Việt
Giám Thông Khảo gồm 26 quyển;
con ông là Vũ Cán, 28 tuổi giữ
chức Lệ bộ Thượng thư triều Lê
Thánh Tông, viết sách Tứ Lục Bị
Lâm. Vũ Dự, tướng giỏi đời vua
Lê Thánh Tông. Vũ Huy Tấn, giỏi
ngoại giao và văn chương dưới
triều Quang Trung Hoàng Đế, tác
giả tập thơ Hoa Trinh Tùy Bộ. Vũ
Huyên, giỏi ngoại giao và
đánh
cờ, vua Lê Phong "Đấu kỳ Trạng
nguyên", toán học, viết quyển
Toán Pháp Đại Thành. Vũ Phong,
danh thần đời Lê Thánh Tông, nổi
tiếng chính trực và vô địch về
môn đánh vật. Vũ Phượng Đề, danh
sĩ triều Lê Ư Tông, đỗ Thám Hoa
(Tiến sĩ) tác giả tập bút kư
Công Dư Tiệp Kư. Lê Cảnh Tuân,
danh sĩ đời Trần, tác giả Vạn
Ngôn thư, ông có hai người con
là Lê Thiếu Dinh và Lê Thúc Hiển
theo B́nh Định Vương Lê Lợi khởi
nghĩa, lập nhiều chiến công.
Cùng Huyện B́nh Giang, có xă
Thời Cử là quê Nguyễn Kim An,
danh sĩ đời vua Lê Thánh Tông,
rất thông minh, đi làm lính chầu
mà
đậu
luôn ba kỳ thi Hương, thi Hội và
thi Đ́nh. Làng Đa Loan có Phạm
Đ́nh Hổ, bạn văn chương của nữ
sĩ Hồ Xuân Hương, tác giả những
bút kư về lịch sử, địa lư như Vũ
Trung Tùy Bút, An Nam Chí, Ai
Lao Sứ Tŕnh, Bang Giao Điển Lệ.
Xă Trương Tân có Đoàn Nhữ Hải,
nhà chính trị và ngoại giao lỗi
lạc dưới các triều vua Trần Anh
Tông, Trần Minh Tông và Trần
Hiến Tông. Xă Lương Ngọc có Phạm
Quư Thích, danh sĩ thời Lê mạt,
tác giả Lập Trai văn tập, Thảo
Đường thi tập. Làng Châu Khê có
Lưu Xuân Tín là ông Tổ nghề đúc
tiền, vàng thoi, bạc thoi ở nước
ta dưới triều vua Lê Thánh Tông.
Làng Lương Ngọc là quê Ngô Văn
Dạng, danh sĩ thời Tự Đức, đỗ cử
nhân nhưng không ra làm quan, mở
trường dạy học tṛ nghèo.
Huyện Kinh Môn, có xă Khinh Diêu
là quê Phạm Đ́nh Trọng, làm Binh
Bộ Thượng Thư triều Lê Hiến
Tông, văn vơ toàn tài, đă dẹp
loạn Nguyễn Hữu Cầu nói ở trên.
Cha ông là Phạm Đ́nh Trung, danh
thần đời Lê Hy Tông, giữ chức Đô
Ngự Sử. Làng Hiệp Thạch, quê
Phạm Sư Mạnh, môn đệ Chu Văn An,
danh sĩ đời Trần, từng làm Hữu
Thừa Tướng (coi cả chính trị lẫn
văn học) đời Trần Dụ Tông, tác
giả Hiệp Thạch Thi Tập.
Huyện Cẩm Giàng, làng Văn Thái
là quê của đại sư Tuệ Tĩnh, một
ông Tổ về y học của nước Nam,
người đầu tiên dạy nghề thuốc ở
nước ta dưới triều Đinh và Tiền
Lê, tác giả tập sách Nam Dược.
Đây cũng là nơi sinh trưởng của
nhà văn Thạch Lam Nguyễn Trường
Lân (nguyên quán Quảng Nam), em
ruột hai nhà văn Nhất Linh
Nguyễn Tường Tam và Hoàng Đạo
Nguyễn Tường Long; ông bắt đầu
viết báo và sáng tác từ năm
1931, có chân trong nhóm Tự Lực
Văn Đoàn và là tác giả Gió Đầu
Mùa, Nắng Trong Vườn, Sợi Tóc,
Ngày Mới, Theo Gịng, Hà Nội 36
Phố Phường (phóng sự), Quyển
Sách, Hạt Ngọc...
Huyện Thanh Hà, làng Thúy Lâm là
quê Ông Nhất, người trồng cây
vải thiều đầu tiên tại nước ta,
vào năm 1857.
Huyện Vĩnh Bảo, xă Hà Dương là
quê của Dương Đức Nhan, danh sĩ
đời vua Lê Thánh Tông, tác giả
Cổ Kim Thi Gia Tinh Tuyển. |
Các thông tin liên
quan đến Thác Đa:
-
Huyền Diệu Thác Đa
-
Thác Đa - điểm đến ngày cuối tuần
-
Chùa Mía
-
Chùa Mía - ngôi chùa cổ trên vùng đất cổ
|